BÀI 19: BÍ TÍCH HÔN PHỐI

Trong chương này, chúng ta sẽ bàn về Bí tích phục vụ thứ hai là bí tích hôn phối. Hôn nhân là hình thức cộng đoàn cựu trào nhất của nhân loại. Cộng đoàn này được Thiên Chúa ban cho ngay sau khi Người tạo dựng con người đầu tiên, khi Người nói:

Để con người ở một mình không tốt. Ta sẽ làm cho nó một người đương đối với nó. . . Thế là Thiên Chúa giáng xuống trên con người một giấc ngủ đê mê, và trong khi con người ngủ, Thiên Chúa ấy một xương sườn của nó. . . Rồi trên xương sườn đã rút tự con người, Giavê Thiên Chúa đã tạo thành người đàn bà. Đoạn Thiên Chúa dẫn đến với con người, và nó đã nói: Phen này, nàng là xương tự xương tôi, thịt tự thịt tôi, nàng sẽ mang danh là “đàn bà” vì đã rút tự đàn ông. Bởi thế đàn ông sẽ bỏ cha mẹ và khắng khít với vợ mình, và chúng sẽ nên một thân xác. Con người và vợ nó cả hai đều trần truồng mà chúng không hổ ngươi. (Gen 1:28)

Mục Đích Của Hôn Nhân

Từ hai đoạn lấy trong Sách Khởi Nguyên, và từ những giáo huấn của Chúa Kitô và của Hội Thánh, chúng ta thấy co hai mục đích đặc biệt của hôn nhân:

Chúa cho người nam và ngươì nữ làm bạn với nhau. Bởi tình thương yêu họ có lẫn nhau, họ nâng đỡ nhau trong cuộc sống. Họ giúp đỡ nhau để nhận biết, yêu mến và phụng sự Chúa ở trần gian hầu mai sau được ở cùng Người trên Thiên Quốc. Sự chúng phần này thường được gọi là tình yêu mến lẫn nhau.

Mục đích thứ hai của hôn nhân là sinh sản con cái và giáo dục chúng trong một gia đình yêu đương. Nhờ sự trao thân cho nhau, người nam và người nữ hợp tác với Thiên Chúa để đem thêm vào thế giới những con người mới. Mục đích thứ hai này thường được gọi là sự sinh đẻ. Sự dấn thân trong hôn nhân giữa người nam và người nữ bảo đảm cho con cái của họ có một mái nhà và một gia đình để sống. Nó bảo vệ những mầm non này và lo chúng phát triển đúng mức như những con cái của Thiên Chúa.

Bí Tích Hôn Nhân

Ngay cả trước khi Chúa Giêsu đưa hôn nhân lên thành một bí tích, thì nó đã được coi là một sự kết hợp suốt đời giữa hai vợ chồng mà hai người đã thề hứa yêu thươn nhau và chung sống với nhau cho đến chết. Dĩ nhiên người phàm chúng ta không luôn sống đúng với chương trình của Thiên Chúa. Bản tính yếu đuối của con người đôi khi phá huỷ chương trình của Người về Hôn nhân bằng những việc như ly dị và ngoại tình. Nhưng điều này không thay đổi gì về mục đích của hôn nhân mà Chúa muốn có từ lúc ban đầu.

Một hôm, có vài người đầu mục trong dân Do Thái hỏi Chúa Giêsu về giáo huấn của Ngài về hôn nhân thế nào, Ngài trả lời họ rằng:

Các ông đã không đọc rằng từ khởi nguyên, Tạo Hóa đã dựng nên chúng là nam là nữ, và Ngừơi dã phán: Bơỉ thế mà đàn ông sẽ bỏ cha mẹ mình và khắng khít với vợ và cả hai chúng sẽ nên một thân xác sao? Cho nên họ không còn là hai, mà là một thân xác. Vậy điều gì Thiên Chú ađã phối hợp thì con người chớ có phân ly. . . Nay Ta bảo các ngươi, ai rẫy vợ mình và cưới vợ khác tức là phạm tội ngoại tình, và người đàn ông nào cưới một người đàn bà đã ly dị là phạm tội ngoại tình. (Mt 19:4-6,9)

Khi mới bắt đầu cuộc đời công khai, Chúa Giêsu có dự một tiệc cưới và đã làm phép lạ đầu tiên của Ngài. Ngài làm phép lạ ấy để chúc lành đôi hôn nhân với sự hiện diện của Ngài. Ngài đã làm cho hôn nhân thành một Bí tích và một dấu chỉ cho tình yêu của Ngài đối với Hội Thánh là thân thể của Ngài. Cũng như Chúa Giêsu luôn luôn yêu mến Hội Thánh của Ngài và không bao giờ từ bõ Hội Thánh thế nào, thì người chồng cũng phải luôn luôn yêu thương vợ mình và ở với vợ mình đến mãn đời như vậy.

Hôn Nhân Kitô Giáo là gì?

Muốn cho hôn nhân của đôi vợ chồng thành một bí tích Kitô giáo, cả hai người phải chịu phép Rửa tội trước. Họ phải có ý định sống cuộc đời Hôn nhân của họ hợp theo chương trình của Chúa, nghĩa là phải ăn ở với nhau suốt đời và sẵn sàng đón nhận mọi con cái Chúa sẽ gửi đến cho họ. Ngày họ làm lễ thành hôn, họ hứa sẽ giữ lòng chung thủy với nhau, khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi bịnh hoạn cũng như lúc mạnh khỏe.

Để giúp đôi lứa sống đời sống hôn nhân Kitô giáo tốt lành, Giáo hội đã đặt ra những luật lệ liên quan tới việc cử hành Bí tích này. Nếu người nam và người nữ không đồng ý cưới nhau đúng theo quy luật này, hoặc không hợp theo chương trình của Chúa, thì cuộc hôn nhân ấy được gọi là bất thành. Nghĩa là giữa hai người chưa có sự kết hợp thật sự, và trước mặt Chúa, họ vẫn còn là những người độc thân.

Nghi Thức Cử Hành Hôn Phối

Nghi thức Hôn phối được cử hành trong Thánh Lễ, nhưng điều này không buộc để có thể cử hành bí tích. Khác với các bí tích khác (trừ bí tích rửa tội vì trong lúc nguy cấp bất cứ ai cũng có thể cử hành được) linh mục không phải là người cử hành bí tích hôn phối cho đôi tân hôn. Ngài hiện diện ở đó để chứng kiến cuộc kết hôn này, thay mặt cho Giáo hội và để nhân danh Chúa chúc lành cho họ. Chính người nam và người nữ cử hành bí tích này cho nhau bằng những lời hứa kết hôn trọng thể.

Sau bài giảng trong Thánh Lễ, linh mục hỏi hai người xem họ có hoàn toàn tự do và thực lòng đến đó, chứ không bị ép buộc để kết hôn với nhau không. Rồi ngài hỏi xem họ có đồng ý sống đời hôn nhân của họ theo luật Chúa hay không. Nếu họ thành thực trả lời CÓ thì sẽ tiếp tục nghi lễ.

Hai người sẽ năm tay nhau và đọc lời thề hứa với nhau. Đó là dấu của bí tích. Như bạn đã biết, lời thề là một lời hứa trọng thể buộc làm những gì mình hứa. Phản bội lời ấy là phạm một tội trọng. Lời thề hôn phối thường như thế này:

Tôi (tên. . .) lấy em (anh) làm vợ (chồng), và hứa sẽ giữ lòng chung thủy với em (anh), khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi bịnh hoạn cũng như lúc mạnh khỏe, để yêu thương và tôn trọng em (anh) mọi ngày suốt đời tôi.

Sau đó, đôi tân hôn trao nhẫn cho nhau. Linh mục làm phép nhẫn, để chúng nên dấu tình yêu và sự trung thành của họ.

Thánh Lễ tiếp tục như thường lệ cho đến khi rước lễ thì linh mục đọc lời nguyện trên đôi tân hôn. Đây là lời chúc lành mà chỉ có người Kitô hữu mới được lãnh nhận. Lời nguyện xin Chúa ban cho họ đời sống thánh thiện, giúp họ sống trung thành với nhau, ban cho họ có con cái, và khi chết thì được về Thiên Đàng. Cuối Thánh Lễ, linh mục còn ban phép lành nữa và nghi thức kết thúc.

Qua Bí tích này, Thiên Chúa làm cho hai người trở nên một thân xác. Điều ấy có nghĩa là trước mặt Chúa, họ không thể phân ly nhau cũng như thân thể một con người khi bị phân ly thì không thể sống được. Chúa còn ban cho họ tất cả những ơn gọi cần thiết để sống trung tín với nhau, và để trở nên những người cha mẹ tốt. Chúa kêu gọi họ làm chứng ta cho Chúa Giêsu và cho đời sống Kitô hữu giữa các thân nhân và bạn bè của họ.

Thời Đại Này Đả Kích Hôn Nhân

Như đã nói ở phần trên, nhiều người thời nay không nghĩ về hôn nhân đúng như chương trình của Thiên Chúa. Là vì thế gian co những giá trị khác với những giá trị của Chúa Kitô. Họ tấn công bí tích hôn nhân nhiều kiểu nhiều cách. Cách nào? Bằng cách chấp nhận ly dị và ngoại tình, bằng phụng sự tiền bạc và của cái như những thần tượng trong xã hội, bằng dạy giới trẻ rằng giao hợp trước khi cưới nhau và thủ dâm là bình thường, bằng khuyến khích có một thái độ tiêu cực đối với gia đình đông con, và khuyến khích dùng thuốc ngừa thai.

Những anh chị công giáo… đã thành vợ chồng hay mới đính hôn, phải ý thức về những giá trị giả dối đó. Họ phải nỗ lực tìm hiểu chương trình của Chúa về hôn nhân bằng cách học hỏi những Giáo huấn của Giáo hội. Cầu nguyện chung với nhau hằng ngày sẽ giúp họ đủ sức để sống lời thề gắng bó với nhau suốt đời. Các bạn trẻ có thể chuẩn bị đời sống hôn nhân bằng cách xin Chúa ban cho họ những người bạn công giáo tốt. Như thế, họ sẽ không bị cám dỗ cưới bất cứ người nào khác, mà chỉ cưới người yêu họ và yêu Chúa thật tình. Chuẩn bị để lãnh nhận bí tích thánh thiện và kỳ diệu này không bao giờ là làm một việc sớm quá cả!

Những Chữ Nên Biết

Dấu của Hôn nhân – Tình yêu mến lẫn nhau – Hôn phối bất thành – Sự sinh đẻ – Lời thề hôn phối

Sinh Hoạt

Câu Hỏi

1. Hôn nhân là gì?

Hôn nhân là bí tích kết hợp một người nam và một người nữ cách vĩnh viễn, như Chúa Giêsu và hôn thê của Ngài là Hôị thánh đã kết hợp với nhau, và nó ban cho hai người đặc sủng để sống thánh thiện và nuôi dưỡng cùng giáo dục con cái họ theo cách thức một gia đình công giáo.

2. Ai là thừa tác viên bí tích hôn phối?

Hai người kết hôn với nhau lá thừa tác viên của Bí tích hôn phối của họ.

3. Khi cử hành bí tích hôn phối, có buộc hai người làm lễ cưới, có ơn thánh Chúa trong lòng không?

Thưa có. Kho làm phép hôn phối, hai người buộc phải sống trong ơn nghĩa Chúa, nếu không, họ sẽ phạm sự thánh.

4. Hôn nhân được ký kết như thế nào?

Hôn nhân được ký kết bằng cách tỏ sự ưng thuận cho nhau trước mặt cha xứ (hoặc một linh mục được uỷ nhiệm) và với hai nhân chứng.

5. Phép hôn phối cử hành theo hình thức này có hiệu quả về mặt dân sự không?

Khi phép hôn phối được cử hành theo hình thức này, thì nó cũng có hiệu quả về mặt dân sự, nếu chính quyền công nhận bí tích hôn phối cũng có những hiệu quả về mặt dân sự.

6. Làm thế nào mà phép hôn phối cử hành cách này có những hiệu quả như vậy?

Thưa là nhờ đăng ký vào sổ bộ quốc gia như pháp luật quy định, và điều này được thực hiện theo thỉnh nguyện của linh mục chánh xứ.

7. Hai vợ chồng phải đảm nhiệm những bổ phận nào?

Hai người phải đảm nhiệm bổn phận sống chung với nhau một cách thánh thiện, giúp đỡ nhau bằng tình thương không bao giờ vơi, trong những nhu cầu vật chất và thiêng liêng; và bổn phận nuôi dưỡng và giáo dục con cái nên người tốt, quan tâm đến nhu cầu của linh hồn chúng không kém những nhu cầu vật chất thể xác của chúng; và trên hết mọi sự, đào tạo chúng về mặt tôn giáo và và các đức tính tốt bằng lời nói và việc làm của

About these ads

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: